N1 - Đọc hiểu - Bài đọc tổng hợp Bài đọc 5 / 10
次のAとBの意見を読んで、後の問いに対する答えとして最もよいものを、1・2・3・4から一つ選びなさい。
A

「安楽死」というものは、さらに「積極的安楽死」と「消極的安楽死」の二つに分けられるらしい。前者は医者が筋弛緩剤(※1)などを投入することによって、患者を耐え難い苦しみから救い死に導くもので、後者は人工呼吸器を外すなど、延命措置を中止することで患者を死に導くものだ。前者を「安楽死」、後者を「尊厳死」と呼ぶ場合も多く、私も「安楽死」を前者の意味で捉えている。

どちらも他者が患者を死に導く意味では共通しているが、後者の患者は人工的に生かされていた状況から解き放たれ、自然な死を迎えるのに対し、前者の患者は残された寿命を全うせず、人工的な死を迎えることになる。

人間が生まれ、そして死んでいくのは自然の営みの一部である。その流れを人間の手で変えてもいいのだろうか。

(※1)筋弛緩剤:筋肉の緊張をやわらげる薬

B

私がもし「安楽死」を選択肢の一つとして考えなければならなくなったとしたら、果たして自分の意思で冷静に残りの人生の生き方を選択できるのだろうか。それだけの体力と精神力が残っているのだろうか。

「安楽死」という字面を見ると、「安らかに楽に死ねる」ように思うが、それは「安楽死」を経験した者、つまり、死した者にしかわからない。実際は患者の介護に疲れた家族や、医療費を支払えない患者を入院させている病院が「安楽」になれる「死」なのかもしれないと、時折疑問を抱く。

私だって、死ぬのは怖い。死を迎える時、どんな痛みや苦しみに襲われるのか想像もつかない。しかし、その死が自身の火が尽きる前に人為的にもたらされるものだと知った時、私は死の直前の苦しみの中で一体何を思うのだろうか。

A
1
「安楽死」というものは、さらに「積極的安楽死」と「消極的安楽死」の二つに分けられるらしい。
Có vẻ như “an tử” còn được chia thành hai loại là “an tử chủ động” và “an tử thụ động”.
2
前者は医者が筋弛緩剤(※1)などを投入することによって、患者を耐え難い苦しみから救い死に導くもので、後者は人工呼吸器を外すなど、延命措置を中止することで患者を死に導くものだ。
Loại thứ nhất là việc bác sĩ sử dụng các loại thuốc như thuốc giãn cơ để giải thoát bệnh nhân khỏi nỗi đau đớn không thể chịu đựng và đưa họ đến cái chết, còn loại thứ hai là việc ngừng các biện pháp kéo dài sự sống, chẳng hạn như tháo máy thở nhân tạo, để bệnh nhân đi đến cái chết.
3
前者を「安楽死」、後者を「尊厳死」と呼ぶ場合も多く、私も「安楽死」を前者の意味で捉えている。
Trong nhiều trường hợp, loại thứ nhất được gọi là “an tử”, còn loại thứ hai được gọi là “cái chết có phẩm giá”, và bản thân tôi cũng hiểu “an tử” theo nghĩa thứ nhất.
4
どちらも他者が患者を死に導く意味では共通しているが、後者の患者は人工的に生かされていた状況から解き放たれ、自然な死を迎えるのに対し、前者の患者は残された寿命を全うせず、人工的な死を迎えることになる。
Cả hai đều có điểm chung là người khác đưa bệnh nhân đến cái chết, nhưng trong khi bệnh nhân thuộc trường hợp sau được giải thoát khỏi tình trạng duy trì sự sống nhân tạo và đón nhận cái chết tự nhiên, thì bệnh nhân thuộc trường hợp trước lại phải đón nhận cái chết do con người tạo ra mà chưa sống hết quãng đời còn lại.
5
人間が生まれ、そして死んでいくのは自然の営みの一部である。
Việc con người sinh ra rồi chết đi là một phần trong quy luật vận hành của tự nhiên.
6
その流れを人間の手で変えてもいいのだろうか。
Liệu con người có được phép dùng bàn tay mình để thay đổi dòng chảy tự nhiên đó hay không?
B
1
私がもし「安楽死」を選択肢の一つとして考えなければならなくなったとしたら、果たして自分の意思で冷静に残りの人生の生き方を選択できるのだろうか。
Nếu một ngày nào đó tôi buộc phải cân nhắc “an tử” như một trong những lựa chọn của mình, liệu tôi có thực sự có thể bình tĩnh quyết định cách sống quãng đời còn lại theo ý chí của chính mình hay không?
2
それだけの体力と精神力が残っているのだろうか。
Liệu lúc ấy tôi còn đủ thể lực và sức mạnh tinh thần để làm điều đó hay không?
3
「安楽死」という字面を見ると、「安らかに楽に死ねる」ように思うが、それは「安楽死」を経験した者、つまり、死した者にしかわからない。
Khi nhìn vào mặt chữ của từ “an tử”, người ta có thể nghĩ rằng đó là việc “ra đi một cách thanh thản, nhẹ nhàng”, nhưng điều đó chỉ những người đã trải qua an tử, tức là những người đã chết, mới có thể biết được.
4
実際は患者の介護に疲れた家族や、医療費を支払えない患者を入院させている病院が「安楽」になれる「死」なのかもしれないと、時折疑問を抱く。
Đôi khi tôi tự hỏi liệu trên thực tế, đó có phải là cái chết giúp gia đình đã kiệt sức vì chăm sóc bệnh nhân, hoặc bệnh viện đang tiếp nhận những bệnh nhân không thể chi trả viện phí, được “nhẹ nhõm” hay không.
5
私だって、死ぬのは怖い。
Ngay cả bản thân tôi cũng sợ chết.
6
死を迎える時、どんな痛みや苦しみに襲われるのか想像もつかない。
Tôi thậm chí không thể tưởng tượng được mình sẽ phải đối mặt với những đau đớn và khổ sở như thế nào khi cái chết đến gần.
7
しかし、その死が自身の火が尽きる前に人為的にもたらされるものだと知った時、私は死の直前の苦しみの中で一体何を思うのだろうか。
Tuy nhiên, nếu biết rằng cái chết ấy được tạo ra bởi sự can thiệp của con người trước khi ngọn lửa sự sống của bản thân tự tắt, thì giữa những đau khổ ngay trước lúc chết, rốt cuộc tôi sẽ nghĩ điều gì?
1
「積極的安楽死」と「消極的安楽死」について、Aの筆者はどのように考えているか。

Tác giả A suy nghĩ như thế nào về “an tử chủ động” và “an tử thụ động”?

1. An tử chủ động giải thoát bệnh nhân khỏi tình trạng bị duy trì sự sống một cách miễn cưỡng.

2. An tử thụ động không đi ngược lại quy luật tự nhiên.

3. Cả an tử chủ động và an tử thụ động đều khiến bệnh nhân không thể sống hết tuổi thọ của mình.

4. Cả an tử chủ động và an tử thụ động đều giúp bệnh nhân chết mà không cảm thấy đau đớn.

Tác giả A phân biệt hai hình thức an tử dựa trên cách thức dẫn đến cái chết.

Trong đó, an tử thụ động là ngừng các biện pháp duy trì sự sống nhân tạo, để bệnh nhân trở về với quá trình chết tự nhiên.

Dẫn chứng trong bài:

→ Bệnh nhân thuộc trường hợp sau được giải thoát khỏi tình trạng duy trì sự sống nhân tạo và đón nhận cái chết tự nhiên.

Ngược lại, an tử chủ động khiến bệnh nhân chết bằng sự can thiệp nhân tạo trước khi sống hết tuổi thọ.

Vì vậy, theo cách phân biệt của tác giả A, an tử thụ động phù hợp với dòng chảy tự nhiên hơn.

→ Đáp án đúng: 2.は自然の流れに逆らっていない。

❌ Đáp án 1: Sai vì việc giải thoát bệnh nhân khỏi tình trạng duy trì sự sống nhân tạo là đặc điểm của an tử thụ động, không phải an tử chủ động.

❌ Đáp án 3: Sai vì tác giả chỉ cho rằng bệnh nhân an tử chủ động không sống hết tuổi thọ, còn bệnh nhân an tử thụ động được đón nhận cái chết tự nhiên.

❌ Đáp án 4: Sai vì bài đọc không khẳng định cả hai hình thức đều giúp bệnh nhân chết mà hoàn toàn không đau đớn.

2
「安楽死」について、Aの筆者とBの筆者はどのような立場をとっているか。

Về vấn đề an tử, tác giả A và tác giả B có lập trường như thế nào?

1. Cả A và B đều có thái độ phê phán.

2. A có thái độ phê phán, còn B không thể hiện rõ tán thành hay phản đối.

3. A không thể hiện rõ tán thành hay phản đối, còn B có thái độ phê phán.

4. Cả A và B đều không thể hiện rõ tán thành hay phản đối.

Tác giả A đặt câu hỏi về việc con người có nên can thiệp vào quá trình sinh tử tự nhiên hay không, nhưng không đưa ra kết luận rõ ràng.

Dẫn chứng trong bài A:

→ Việc con người sinh ra rồi chết đi là một phần của quy luật tự nhiên. Liệu con người có được phép dùng bàn tay mình để thay đổi dòng chảy đó hay không?

Tác giả B cũng bày tỏ những băn khoăn về khả năng tự quyết định, lợi ích thực sự của an tử và cảm giác khi phải đối diện với cái chết do con người tạo ra.

Dẫn chứng trong bài B:

→ Liệu tôi có thực sự có thể bình tĩnh lựa chọn cách sống quãng đời còn lại theo ý chí của chính mình hay không?

→ Trong nỗi đau khổ ngay trước khi chết, rốt cuộc tôi sẽ nghĩ điều gì?

Cả hai tác giả đều nêu lên những câu hỏi và sự hoài nghi về an tử, nhưng không trực tiếp khẳng định tán thành hay phản đối.

→ Đáp án đúng: 4.AもBも賛否を明確にしていない。

❌ Đáp án 1: Sai vì cả hai đều bày tỏ sự băn khoăn, nhưng chưa đưa ra lập trường phản đối một cách dứt khoát.

❌ Đáp án 2: Sai vì A không trực tiếp khẳng định phản đối an tử mà kết thúc bằng một câu hỏi.

❌ Đáp án 3: Sai vì B cũng chỉ thể hiện những nghi ngại và lo lắng, chưa đưa ra kết luận phản đối rõ ràng.

3

AとBの二つの文章を以下のようにまとめる場合、①と②にはどれが入るか。

「Aの筆者は(①)と考えており、Bの筆者は(②)と考えている」

Khi tóm tắt hai bài viết A và B theo cách dưới đây, nội dung nào phù hợp với vị trí ① và ②?

“Tác giả A cho rằng (①), còn tác giả B cho rằng (②).”

1. ① Không nên để người thứ ba quyết định chấm dứt số phận của bệnh nhân.
  ② Để có thể đón nhận cái chết thanh thản, không đau đớn, an tử cũng là điều cần thiết.

2. ① Việc con người sinh ra rồi chết đi là điều tự nhiên.
  ② Nếu cuộc đời chỉ còn là chịu đựng đau khổ thì tốt hơn nên chủ động tạo ra cái chết.

3. ① Bệnh nhân nên suy nghĩ kỹ để lựa chọn một trong hai hình thức an tử.
  ② Đáng nghi ngờ liệu việc an tử có thực sự được thực hiện dựa trên sự lựa chọn của chính bệnh nhân hay không.

4. ① Vì con người là một phần của tự nhiên nên không được thay đổi dòng chảy đó.
  ② Phải chăng an tử đang được thực hiện vì lợi ích của những người khác chứ không phải chính bệnh nhân?

Ở bài A, tác giả phân biệt hai hình thức an tử và đặt vấn đề về việc con người can thiệp vào quá trình sinh tử tự nhiên.

Dẫn chứng trong bài A:

→ Cả hai đều có điểm chung là người khác dẫn bệnh nhân đến cái chết.

→ Liệu con người có được phép dùng bàn tay mình để thay đổi dòng chảy đó hay không?

Ở bài B, tác giả đặc biệt nghi ngờ việc người bệnh có thực sự đủ khả năng tự đưa ra quyết định an tử hay không.

Dẫn chứng trong bài B:

→ Liệu tôi có thực sự có thể bình tĩnh lựa chọn cách sống quãng đời còn lại theo ý chí của chính mình hay không? Liệu tôi còn đủ thể lực và tinh thần để làm điều đó hay không?

Tuy nhiên, đáp án 3 không hoàn toàn phù hợp với A, vì A không trực tiếp khuyên bệnh nhân lựa chọn giữa hai hình thức an tử. Nội dung gần với lập luận của A hơn là sự nghi ngờ về quyền can thiệp của con người vào cái chết tự nhiên.

Dẫn chứng trong bài B:

→ Đôi khi tôi tự hỏi liệu trên thực tế, đó có phải là cái chết giúp gia đình đã kiệt sức vì chăm sóc bệnh nhân hoặc bệnh viện đang tiếp nhận những bệnh nhân không thể chi trả viện phí được “nhẹ nhõm” hay không.

Dẫn chứng này phù hợp trực tiếp với ý ② của đáp án 4. Đồng thời, ý ① của đáp án 4 cũng phản ánh mối băn khoăn của A về việc thay đổi quy luật tự nhiên.

→ Đáp án đúng: 4.①人間は自然の一部なのだから、その流れを変えてはならない。②安楽死は、本人以外の者のために行われているのではないか。

❌ Đáp án 1: Sai vì B không cho rằng an tử là điều cần thiết để có cái chết thanh thản, mà còn nghi ngờ liệu cái chết đó có thực sự thanh thản đối với bệnh nhân hay không.

❌ Đáp án 2: Sai vì B không cho rằng nên chủ động tạo ra cái chết nếu bệnh nhân phải chịu đau khổ.

❌ Đáp án 3: Sai vì A không khuyên bệnh nhân lựa chọn giữa hai hình thức an tử, mà đặt câu hỏi về việc con người can thiệp vào quá trình sinh tử tự nhiên.