自分一人がサバンナにぽつんと立っていて、そこにライオンが来れば自分が食われてしまう可能性は非常に高いわけですが、もう一人いれば、確率は二分の一になります。三人いれば三分の一というように、多くいればいるほど自分が犠牲になる確率は少なくなるのです。
(中略)
では、集団は大きければ大きいほどいいのでしょうか。そんなことはありません。あまり大きくなると、こんどは損失が生じてきます。一人あたりの分け前が減るのです。有限の食物が集中して存在しているときには、それを食べる人数が増えれば増えるほど一人あたりの取り分は減ります。取り分を増やそうとすると、新たな食物を探さなければなりませんが、それには移動のためにエネルギーや時間を使わなければなりません。つまり、捕食者対策の利益と採食競合の損失の釣り合いがとれたところで、集団の大きさは決まっているといえます。
集団が大きくなると採食の面で損失が増えるといいましたが、実はこれは集団がひとつしかない場合のことです。隣接する集団がいて、同じ食物を巡って争っている場合はどうでしょうか。集団間の争いの場合、単純に考えて数が多い方が優位になります。ということは、数が多い方が採食にとって有利に働くこともあるのです。
首相から人気グループ、霊能者、一般の人たちまでが、急に声をそろえて「ありがとう、ありがとう」と連呼するようになった感がある。いったいどうしてなのだろう。そして、この現象は本人が「ありがとう」と感謝するだけでなく、他の人にも「ありがとうと感謝すべきだ」という空気をつくっているようにも思える。
(中略)
「感謝の心を持とう」とすすめる論の多くは次のように言う。日々の生活の中にちょっとした不安や心配があったとしても、とにかくこの世界に生まれたこと自体が奇跡なのだから、まずはそこに感謝するべきなのだ。そして、たとえ最高の人生を歩んでいなくても、とりあえず身近に家族や友人がいるなら、その人たちに「ありがとう」という気持ちを持てばよい。これ自体は、ある意味で正論なのだが、(※1)内実は、「たとえ幸せとは言えない状態であっても、感謝するべきなのです」というメッセージにもなってしまっている。
(中略)
いくら苦しい状況でもとりあえず感謝せよ、と言われることで、本来、家族や社会あるいは時の権力に対して持つべきだった疑問、行うはずだった抗議も口に出せず、「これも運命なんだ」と受け入れてしまう人も増えてしまうのではないだろうか。そうした「ありがとう」の押しつけは、結局のところ、苦しみを背負うのは自分ばかりという自己責任の考え方に向かうことになる。
(※1)内実:内部の実情、本当のところ
大昔の人びとは、花にかこまれていました。だから、花をわざわざ表現しようと思わなかったのです。ところが、人間は文明を発達させるにつれて、自然をこわしていきます。そして、自然をこわせばこわすほど、人は花を表現するようになったのではないでしょうか。
森林や草地を開いて、垣根をつくります。垣根のなかには、木を植えたり草花を植えたりして花を楽しみます。建物のなかはいくつもの部屋に分かれた完全に人工的な空間です。この人工的な空間のなかで、人間は長い時間をすごすようになってきます。そうすると、殺風景な気分を和らげるために、そこに自然をもちこみたくなります。部屋の壁に花の模様を使ったり、花の絵を飾ったりします。生け花を飾り、鉢植えの花をもってきたりします。窓の外には花壇をつくります。
(中略)
世界的にみても花の造形の歴史は新しく、とくに花専門の絵が出てくるのはわずか100年前のことなのです。このように花の造形の歴史がひじょうに新しいという事実の解釈として、知的な発達で人間は花を愛するようになったという解釈もあります。しかし私はむしろ、人間は自然をこわせばこわすほど花を愛するようになったのではないかと考えているのです。
具体的に問題解決をはじめるときに重要なことは、ようするになにをやりたいかという「目的」をはっきりさせることだ。
(中略)
なお、目的を明確化すると言っても、一方で、とても具体的な目的が最初から与えられる場合もある。たとえば、会社の上司から「うまくアイロンをかけられるロボットをつくりなさい」と言われたとしよう。そのときには、その上司の言ったことのほんとうの意図をくむようにしよう。それをしない忠実な部下は、それではアイロンを握って、布を適当な力で押しつけることのできるロボットアームや、布のしわを見つけるロボットビジョンの設計に、すぐとりかかるだろう。
しかし、そうではなくて、この上司は「洗濯が終わったら、できるだけ早く服を着られるようにしたい。そして、その目的の一つの具体的な方法として、アイロンがけロボットをつくれ」と言っているんだな、と考えると、なにもアイロンがけロボットにこだわる必要はなくなる。たとえば、衣料の繊維自体に手を加えて、洗濯してもしわができない繊維にしてしまえば、アイロンがけ自体が不要になる。すでに形状記憶繊維が普及しているから、①このような考え方の有効性はみんなわかっているよね。
会話を進めるうえで、男女間では①対照的な特徴があった。
たとえば、お互いの発話への支持作業のちがいだ。女性は男性の発話に対して、「ん」「そうー」「へぇー」「すっご~い」などの「あいづち」や「うなずき」を頻繁に行っている。これは、明らかに相手の語りを評価し、さらに話を進めていくことを支持する営みだ。対照的に、男性は女性の発話に対し、こうした支持作業をそれほど積極的に行っていなかった。
また、同性間の会話に比べ、男性が女性の発話に割り込んでいく割合が多かった。
会話における割り込み。これは単に相手の話をさえぎることではない。発話する権利の配分という点から考えれば、②「ゆゆしき権力行使」と言える。つまり、それは相手がしゃべることができる場でしゃべりきることを制止する権力行為であり、また、しゃべり終えたあと、会話において次の行為を決めることができる権利をも奪っていくのである。
詳しくは、先にあげた論文を読んでほしいのだが、ここで言いたいのは以下のことだ。性差別という現象を考えるとき、歴史的な経緯や社会構造的な背景から、その原因を説得的に論じることもできるだろう。しかし、他方で、③まさに日々、性差別はつくられ続けているのである。
アイデアを生む発想力というのは、遍在する膨大な記憶を徹底的に「検索」し、適したものを意識の表面に浮かび上がらせる力ではないかと思う。その力は①筋肉と同じで、鍛え続けないと退化する。そして発想力を鍛え、維持するためには、他の誰よりも「長い時間集中して考え抜く」という、ミもフタもないやり方しかない。
だがおそらく考えている間はアイデアは生まれてこない。脳が悲鳴を上げるまで考え抜いて、ふっとその課題から離れたときに、湖底から小さな泡が上がってくるように、アイデアの核が浮き上がってくる。
つまりアイデアというものは常に直感的に浮かび上がる。しかし直感は、「長い間集中して考え抜くこと」、すなわち果てしない思考の延長上でしか②機能してくれない。
川は、人生と自然との関わりを深く結びつける空間である。ひとが自分の人生のイメージを川の流れに重ね合わせる場といってもよく、ひとの人生を形づくっていく経験が貯蓄される場であるといってもよい。
川のもつ変化の相は、それを体験する人間の経験の豊かさの諸相でもある。川は人びとにさまざまな経験を与え、人生を豊かにする可能性をもつ。
人生を豊かにするということのなかに、川のもつ「流れ」がある。しかし、河川事業を行うとき、しばしばこの根本的な性格が見落とされる。
「エジプトはナイルのたまもの」というように、川はまず恵みを与えてくれるものであるはずなのに、しばしば河川事業を説明するパンフレットは、洪水の図から始まっている。特に都市の場合、洪水の原因はといえば、人間が土地を舗装し、地面に水が吸い込まれなくなったことなど、人為的な原因があるにもかかわらず、そのために起こる洪水の恐怖、リスクを先に置き、「自然の脅威」とか「牙をむく自然」とかといった自然を擬人化して敵対的な表現が用いられる。
科学や技術によって世の中が進歩すればするほど、人間も進歩し、人間は善くなり、悪人はいなくなるなどと考えることは、どうも幻想にすぎないのではないだろうか。①そんなことをもし学校で子供たちに教えているとしたら、それは欺瞞(※1)にすぎない。文字どおり、子供だましである。
愛すべき人間は多い。それは事実だ。しかし信用できない人間、かくれてだます人間、人を傷つけて知らぬふりをしている人間の数も、それに劣らず多い。それも事実だ。そして科学技術が進めば進むほど、②そのような人間も多くなってゆくだろうことを、学校教育は強力に子供たちに教えるべきである。「通常、人間は機会さえあれば、悪いことをするものである」とすでに古くアリストテレスは言っている。
日本のような他者志向型の文化のなかでは、人びとの頭のなかには「人間はみな善人で信ずべき存在である。他人を疑ってはいけない」という甘い考え、あるいは根拠のない幻想がしみついている。だから学校でもそのように子供に教える。まるで子供に目をつぶらせて、狭い平均台のうえを渡らせるようなものだ。オモテばかりを教えて、ウラを教えない教育は片手落ちというべきである。疑うべきものはきちんと疑うように教えるべきなのだ。
(※1)欺瞞:だますこと
生命とは動的平衡(※1)にある流れである。生命を構成するタンパク質は作られる際から壊される。それは生命がその秩序を維持するための唯一の方法であった。しかし、なぜ生命は絶え間なく壊され続けながらも、もとの平衡を維持することができるのだろうか。その答えはタンパク質のかたちが体現している相補性(※2)にある。生命は、その内部に張り巡らされたかたちの相補性によって支えられており、その相補性によって、絶え間のない流れの中で①「動的な平衡」状態を保ちえているのである。
②ジグソーパズルのピースは次々と捨てられる。それはパズルのあらゆる場所で起こるけれど、それはパズル全体から見ればごく微細な一部に過ぎない。だから全体の絵柄が大きく変化することはない。
そして、新しいピースもまた次々と作り出される。重要なことは、新しく作られたピースは自らのかたちが規定する相補性によって、自分の納まるべき位置をあらかじめ決定されているという事実である。ピースはランダムな熱運動を繰り返し、欠落したピースの穴と自らの相性を試しているうちに、納まるべき場所に納まる。こうして不断の分解と合成に晒されながらも、パズルは全体として平衡を保つことが可能となる。
(※1)平衡:バランスがとれて安定している状態
(※2)相補性:互いに補い合う性質
損失の内容に最も近いものはどれか。
Nội dung nào dưới đây gần nhất với “tổn thất” mà tác giả đề cập?
1.一人ひとりが食物を探す場所が狭くなる。
Phạm vi tìm kiếm thức ăn của mỗi cá thể trở nên hẹp hơn.
2.一人あたりのエネルギー消費量が高くなる。
Lượng năng lượng mà mỗi cá thể tiêu hao tăng lên.
3.一人ひとりが生存できる確率が低くなる。
Khả năng sống sót của mỗi cá thể giảm xuống.
4.一人ひとりが十分食べることができない。
Mỗi cá thể không thể ăn được đầy đủ.
Ngay sau khi nói một đàn quá lớn sẽ phát sinh 損失 – tổn thất, tác giả giải thích:
「一人あたりの分け前が減るのです。有限の食物が集中して存在しているときには、それを食べる人数が増えれば増えるほど一人あたりの取り分は減ります。」
→ Phần thức ăn được chia cho mỗi cá thể sẽ giảm. Khi lượng thức ăn có hạn, số lượng cá thể cùng ăn càng tăng thì phần thức ăn của mỗi cá thể càng giảm.
Vì vậy, tổn thất ở đây là mỗi cá thể sẽ không có đủ thức ăn.
Đáp án 2 dễ gây nhầm vì bài có nói đến việc phải tiêu tốn năng lượng để di chuyển tìm thức ăn mới. Tuy nhiên, đó là hệ quả khi muốn tìm thêm thức ăn; tổn thất trực tiếp mà tác giả nêu trước tiên là 一人あたりの取り分が減る – phần thức ăn của mỗi cá thể giảm.
→ Đáp án 4 đúng.
筆者の説明と合っているものはどれか。
Điều nào dưới đây phù hợp với lời giải thích của tác giả?
1.一つの集団における採食を考えると、集団は小さいほうがいい。
Nếu chỉ xét việc kiếm thức ăn trong một đàn thì đàn nhỏ sẽ có lợi hơn.
2.小さい集団に属しているほうが、敵に食べられる可能性が低い。
Thuộc một đàn nhỏ thì khả năng bị kẻ săn mồi ăn thịt sẽ thấp hơn.
3.サバンナの動物は、食物を得るために移動をくり返す。
Động vật trên thảo nguyên liên tục di chuyển để kiếm thức ăn.
4.隣接する同じような集団があれば、敵と争う際に協力できるので有利だ。
Nếu có những đàn tương tự ở gần thì có thể hợp tác khi chiến đấu với kẻ thù nên sẽ có lợi hơn.
Tác giả nói:
「集団が大きくなると採食の面で損失が増えるといいましたが、実はこれは集団がひとつしかない場合のことです。」
→ Khi đàn càng lớn thì tổn thất về mặt kiếm thức ăn càng tăng, nhưng điều này áp dụng trong trường hợp chỉ có một đàn.
Vì số lượng cá thể càng nhiều thì phần thức ăn của mỗi cá thể càng giảm, nên nếu chỉ xét việc kiếm thức ăn trong một đàn, đàn nhỏ sẽ có lợi hơn.
Đáp án 2 ngược với bài. Tác giả nói số lượng cá thể càng nhiều thì xác suất bản thân trở thành vật hi sinh cho kẻ săn mồi càng thấp.
Đáp án 4 cũng dễ gây nhầm, nhưng bài nói các đàn lân cận tranh giành cùng một nguồn thức ăn, chứ không phải hợp tác với nhau chống kẻ thù.
→ Đáp án 1 đúng.
この文章は主に何について述べたものか。
Bài viết này chủ yếu nói về vấn đề gì?
1.集団が形成されるプロセス
Quá trình hình thành một đàn.
2.集団の大きさのバランス
Sự cân bằng về quy mô của một đàn.
3.集団の内と外のライバル
Sự cạnh tranh bên trong và bên ngoài đàn.
4.集団で暮らすメリット
Những lợi ích của việc sống theo đàn.
Ý chính của bài được thể hiện rõ nhất ở câu:
「捕食者対策の利益と採食競合の損失の釣り合いがとれたところで、集団の大きさは決まっているといえます。」
→ Có thể nói quy mô của đàn được quyết định tại điểm đạt được sự cân bằng giữa lợi ích trong việc đối phó với kẻ săn mồi và tổn thất do cạnh tranh thức ăn.
Đàn lớn có lợi trong việc giảm nguy cơ một cá thể bị ăn thịt, nhưng lại có thể làm giảm phần thức ăn của mỗi cá thể. Ngoài ra, khi cạnh tranh với đàn khác, số lượng đông lại có thể trở thành lợi thế.
Vì vậy, toàn bài tập trung vào 集団の大きさのバランス – sự cân bằng về quy mô của đàn.
→ Đáp án 2 đúng.
最近どんな人が増えていると筆者は述べているか。
Theo tác giả, gần đây kiểu người nào đang gia tăng?
1.感謝の心を持つ大切さを子どもに教える人
Những người dạy trẻ em về tầm quan trọng của lòng biết ơn.
2.どんな場面でも感謝の言葉を口にする人
Những người nói lời cảm ơn trong bất cứ hoàn cảnh nào.
3.自分を生んでくれた親に感謝する人
Những người biết ơn cha mẹ đã sinh ra mình.
4.気持ちも込めず「ありがとう」と言う人
Những người nói “cảm ơn” mà không đặt tình cảm thực sự vào đó.
Ngay đầu bài, tác giả nói:
「首相から人気グループ、霊能者、一般の人たちまでが、急に声をそろえて「ありがとう、ありがとう」と連呼するようになった感がある。」
→ Từ thủ tướng, các nhóm nhạc nổi tiếng, những người có năng lực tâm linh cho đến người bình thường, dường như tất cả đều đột nhiên liên tục nói “cảm ơn, cảm ơn”.
Sau đó, tác giả còn đề cập đến quan điểm rằng ngay cả khi có lo lắng hay cuộc sống không hoàn toàn hạnh phúc thì vẫn nên biết ơn.
Vì vậy, tác giả cho rằng ngày càng có nhiều người nói lời cảm ơn trong nhiều hoàn cảnh khác nhau.
Đáp án 4 dễ gây nhầm, nhưng bài không nói họ không có lòng biết ơn thật sự; vấn đề tác giả đặt ra là xu hướng cho rằng con người nên cảm ơn trong mọi hoàn cảnh.
→ Đáp án 2 đúng.
「口に出せず」という状態になるのはなぜか。
Tại sao lại rơi vào trạng thái “không thể nói ra”?
1.不満を抱いてはいけないように思わされているから。
Vì bị khiến cho nghĩ rằng mình không nên có sự bất mãn.
2.自分を苦しめている家族や社会の状況があまりにも悪いから。
Vì tình trạng của gia đình hoặc xã hội đang khiến bản thân đau khổ là quá tồi tệ.
3.苦しい気持ちを訴える相手がいないから。
Vì không có ai để giãi bày, kêu lên về những cảm xúc đau khổ của mình.
4.今生きていることや周りの人の存在に満足してしまったから。
Vì đã cảm thấy thỏa mãn với việc mình đang sống và với sự hiện diện của những người xung quanh.
Tác giả nói:
「いくら苦しい状況でもとりあえず感謝せよ、と言われることで、本来、家族や社会あるいは時の権力に対して持つべきだった疑問、行うはずだった抗議も口に出せず、「これも運命なんだ」と受け入れてしまう」
→ Khi bị bảo rằng dù hoàn cảnh có khổ sở đến đâu thì trước hết cũng phải biết ơn, người ta không thể nói ra những nghi vấn hay sự phản đối mà lẽ ra mình phải có đối với gia đình, xã hội hoặc quyền lực, mà lại chấp nhận rằng “đây cũng là số phận”.
Như vậy, việc bị yêu cầu phải biết ơn ngay cả khi đang đau khổ khiến người ta cảm thấy rằng mình không nên bất mãn hay phản đối.
→ Đáp án 1 đúng.
この文章で筆者が最も言いたいことはどれか。
Điều tác giả muốn nói nhất trong bài viết này là gì?
1.本当に感謝の気持ちがあるなら、それを態度で表すべきだ。
Nếu thực sự có lòng biết ơn thì nên thể hiện điều đó bằng hành động.
2.どんな場合でも感謝の気持ちを持つべきという考え方には問題がある。
Quan niệm cho rằng trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng phải có lòng biết ơn là có vấn đề.
3.家族や友人に対しては、心の中でしっかりと感謝すればいい。
Đối với gia đình và bạn bè, chỉ cần thực sự biết ơn họ trong lòng là được.
4.人から感謝されればされるほど、苦しみを感じる人もいる。
Có những người càng được người khác cảm ơn thì càng cảm thấy đau khổ.
Tác giả không phủ nhận bản thân lòng biết ơn, mà đặt vấn đề với việc ép buộc con người phải biết ơn ngay cả khi đang ở trong hoàn cảnh đau khổ:
「そうした「ありがとう」の押しつけは、結局のところ、苦しみを背負うのは自分ばかりという自己責任の考え方に向かうことになる。」
→ Việc áp đặt lời “cảm ơn” như vậy cuối cùng sẽ dẫn đến cách suy nghĩ rằng chính bản thân phải tự chịu trách nhiệm cho những đau khổ mà mình đang gánh chịu.
Vì vậy, điều tác giả phê phán là 「ありがとう」の押しつけ – sự áp đặt rằng phải biết ơn, chứ không phải lòng biết ơn nói chung.
→ Đáp án 2 đúng.
ここでの花を表現する例として、適当でないものはどれか。
Điều nào dưới đây không phù hợp với ví dụ về việc “thể hiện hoa” được nói đến trong bài?
1.花びんに花を飾ること
Cắm và trang trí hoa trong bình.
2.校庭に花を植えること
Trồng hoa trong sân trường.
3.毎年春に、花見をしに行くこと
Mỗi mùa xuân đi ngắm hoa.
4.部屋のカーテンを花柄にすること
Dùng rèm có họa tiết hoa trong phòng.
Trong bài, 花を表現する – thể hiện hoa là việc con người đưa hoa hoặc hình ảnh của hoa vào không gian sống, chẳng hạn:
「部屋の壁に花の模様を使ったり、花の絵を飾ったりします。生け花を飾り、鉢植えの花をもってきたりします。窓の外には花壇をつくります。」
→ Người ta sử dụng họa tiết hoa trên tường, treo tranh hoa, trang trí hoa cắm, mang hoa trồng trong chậu vào nhà hoặc làm bồn hoa bên ngoài cửa sổ.
Trong khi đó, 花見 – đi ngắm hoa là đi đến nơi có hoa trong tự nhiên để thưởng thức, không phải tạo ra hay đưa hoa/hình ảnh hoa vào không gian của con người.
→ Đáp án 3 đúng.
この文章によると、人間が花を愛する気持ちを強くするのはなぜだと考えられるか。
Theo bài viết, tại sao tình cảm yêu thích hoa của con người lại trở nên mạnh mẽ hơn?
1.人間の知能が発達し、花の美しさを理解できるようになったから。
Vì trí tuệ con người phát triển và con người đã có thể hiểu được vẻ đẹp của hoa.
2.文明の発達にともなって、周囲から自然が失われていくから。
Vì cùng với sự phát triển của văn minh, thiên nhiên xung quanh con người dần mất đi.
3.花を描いた造形物が増え、花の魅力をより感じるようになったから。
Vì các tác phẩm tạo hình về hoa ngày càng nhiều, khiến con người cảm nhận được sức hấp dẫn của hoa hơn.
4.何もない人工的な空間に飽きてきたから。
Vì con người dần chán những không gian nhân tạo trống trải.
Quan điểm của tác giả được nói rõ ở cuối bài:
「しかし私はむしろ、人間は自然をこわせばこわすほど花を愛するようになったのではないかと考えているのです。」
→ Tuy nhiên, tác giả cho rằng càng phá hủy thiên nhiên, con người lại càng trở nên yêu hoa hơn.
Như vậy, cùng với sự phát triển của văn minh, thiên nhiên ngày càng bị phá hủy và xa rời cuộc sống của con người, từ đó con người càng muốn tìm đến hoa và thiên nhiên.
Đáp án 1 dễ gây nhầm vì đây cũng là một cách giải thích được nêu trong bài, nhưng tác giả dùng しかし私はむしろ – tuy nhiên, bản thân tôi thì ngược lại cho rằng... để đưa ra quan điểm của chính mình.
→ Đáp án 2 đúng.
この文章では何を説明しているか。
Bài viết này giải thích chủ yếu về điều gì?
1.日本における花の造形の歴史
Lịch sử nghệ thuật tạo hình về hoa ở Nhật Bản.
2.人間が花を表現したがる理由
Lý do con người muốn thể hiện hoa.
3.今日における自然破壊の原因
Nguyên nhân của việc phá hủy thiên nhiên ngày nay.
4.人間の知的発達と花との関係
Mối quan hệ giữa sự phát triển trí tuệ của con người và hoa.
Ngay đầu bài, tác giả đưa ra vấn đề:
「人間は文明を発達させるにつれて、自然をこわしていきます。そして、自然をこわせばこわすほど、人は花を表現するようになったのではないでしょうか。」
→ Cùng với sự phát triển của văn minh, con người phá hủy thiên nhiên, và càng phá hủy thiên nhiên thì con người càng có xu hướng thể hiện hoa.
Sau đó, tác giả đưa ra nhiều ví dụ về việc đưa hoa và hình ảnh hoa vào không gian nhân tạo, rồi cuối cùng khẳng định con người càng mất đi thiên nhiên thì càng yêu hoa.
Vì vậy, toàn bài chủ yếu giải thích 花を表現したがる理由 – lý do con người muốn thể hiện hoa.
→ Đáp án 2 đúng.
この文章では、部下をどのような人物の例として挙げているか。
Trong bài viết này, tác giả đưa người cấp dưới ra làm ví dụ cho kiểu người như thế nào?
1.特殊なロボットを発想できる独創的な人
Người có tính sáng tạo, có thể nghĩ ra những loại robot đặc biệt.
2.上司の言葉どおりに業務に当たる人
Người thực hiện công việc đúng theo những gì cấp trên nói.
3.目標を持って業務に当たろうとしない人
Người không cố gắng làm việc với một mục tiêu rõ ràng.
4.自分の能力を超えた仕事をしようとする人
Người cố gắng làm công việc vượt quá năng lực của bản thân.
Tác giả nói rằng khi được cấp trên yêu cầu chế tạo robot là quần áo, cần hiểu ほんとうの意図 – ý định thực sự đằng sau yêu cầu đó.
Nhưng người cấp dưới trong ví dụ lại:
「それをしない忠実な部下は、それではアイロンを握って、布を適当な力で押しつけることのできるロボットアームや、布のしわを見つけるロボットビジョンの設計に、すぐとりかかるだろう。」
→ Người cấp dưới trung thành nhưng không tìm hiểu ý định thực sự của cấp trên sẽ lập tức bắt tay vào thiết kế robot đúng theo yêu cầu “làm robot là quần áo”.
Vì vậy, đây là ví dụ về người chỉ làm theo đúng lời cấp trên nói.
→ Đáp án 2 đúng.
「このような考え方」とあるが、その内容として合わないものはどれか。
Có cụm このような考え方 – cách suy nghĩ như vậy, điều nào dưới đây không phù hợp với nội dung của cách suy nghĩ đó?
1.本当の目的をはっきりさせること
Làm rõ mục đích thực sự.
2.一つの方法にこだわらないこと
Không quá câu nệ vào một phương pháp duy nhất.
3.手のかからない方法で問題を解決すること
Giải quyết vấn đề bằng phương pháp ít tốn công sức.
4.最も必要な機能は何かを考えること
Suy nghĩ xem chức năng thực sự cần thiết nhất là gì.
Tác giả cho rằng cần xác định 本当の目的 – mục đích thực sự trước, rồi mới lựa chọn cách giải quyết:
「なにもアイロンがけロボットにこだわる必要はなくなる。」
→ Không nhất thiết phải cố chấp với phương án robot là quần áo.
Có thể thay đổi chính sợi vải để quần áo không bị nhăn sau khi giặt. Như vậy, điểm quan trọng là hiểu mục đích và không bị bó buộc vào một giải pháp cụ thể.
Bài không nói rằng phải chọn 手のかからない方法 – phương pháp ít tốn công sức.
→ Đáp án 3 đúng.
「アイロンがけロボット」について、筆者はどう述べているか。
Tác giả nói gì về アイロンがけロボット – robot là quần áo?
1.高度な先端技術を要するロボットであり、開発は困難だ。
Đây là loại robot đòi hỏi công nghệ tiên tiến cao và khó phát triển.
2.繊維自体を加工する方法と同様に、広く普及すると予想される。
Robot này được dự đoán sẽ phổ biến rộng rãi giống như phương pháp xử lý chính sợi vải.
3.洗濯後できるだけ早く服を着たいという目的に対して最良の解決策だ。
Đây là giải pháp tốt nhất cho mục đích muốn có thể mặc quần áo càng sớm càng tốt sau khi giặt.
4.上司の真意に沿うなら、ロボット以外のアプローチを考えてもよい。
Nếu phù hợp với ý định thực sự của cấp trên thì cũng có thể nghĩ đến cách tiếp cận khác ngoài việc chế tạo robot.
Tác giả cho rằng mục đích thực sự của cấp trên có thể là:
「洗濯が終わったら、できるだけ早く服を着られるようにしたい。」
→ Muốn có thể mặc quần áo càng sớm càng tốt sau khi giặt xong.
Nếu hiểu được mục đích này thì:
「なにもアイロンがけロボットにこだわる必要はなくなる。」
→ Không nhất thiết phải cố chấp với việc chế tạo robot là quần áo.
Chẳng hạn, có thể thay đổi sợi vải để quần áo không bị nhăn và từ đó không cần là nữa.
→ Đáp án 4 đúng.
①「対照的な特徴」とはどのような傾向のことか。
Cụm từ 「対照的な特徴」 (những đặc điểm trái ngược nhau) chỉ xu hướng như thế nào?
1. 女性は男性の発話に反対することが多いが、男性は女性の発話に賛成することが多い。
Phụ nữ thường phản đối những điều đàn ông nói, trong khi đàn ông thường đồng tình với những điều phụ nữ nói.
2. 女性は男性の発話に非協力的だが、男性は女性の発話に対して協力的である。
Phụ nữ không hợp tác khi đàn ông nói, trong khi đàn ông lại hợp tác khi phụ nữ nói.
3. 女性は男性の発話に賛成することが多いが、男性は女性の発話に反対することが多い。
Phụ nữ thường đồng tình với những điều đàn ông nói, trong khi đàn ông thường phản đối những điều phụ nữ nói.
4. 女性は男性の発話に協力的だが、男性は女性の発話に対して協力的ではない。
Phụ nữ có thái độ hợp tác khi đàn ông nói, nhưng đàn ông lại không thể hiện thái độ hợp tác tương tự khi phụ nữ nói.
Tác giả viết:
「女性は男性の発話に対して、(中略)『あいづち』や『うなずき』を頻繁に行っている。」
→ Phụ nữ thường xuyên có những phản ứng hưởng ứng và gật đầu khi đàn ông nói.
Ngược lại:
「男性は女性の発話に対し、こうした支持作業をそれほど積極的に行っていなかった。」
→ Đàn ông không tích cực thực hiện những hành động thể hiện sự ủng hộ như vậy khi phụ nữ nói.
Điểm khác biệt nằm ở mức độ hợp tác và hỗ trợ người đối diện tiếp tục cuộc trò chuyện, chứ không phải việc đồng ý hay phản đối nội dung được nói ra.
Vì vậy, đáp án 4 phản ánh chính xác sự đối lập mà tác giả đề cập.
→ Đáp án 4 đúng.
筆者が②「ゆゆしき権力行使」と考える理由は何か。
Tại sao tác giả cho rằng đó là một hành vi sử dụng quyền lực nghiêm trọng?
1. 相手が発話する権利を奪い、会話の流れを決める権利を奪うから。
Vì hành động đó tước đi quyền được nói của người đối diện, đồng thời tước đi quyền quyết định diễn biến tiếp theo của cuộc trò chuyện.
2. 相手の発話権を制止し、自分だけが発話できるようにするから。
Vì hành động đó ngăn cản quyền phát biểu của người đối diện, khiến chỉ bản thân mình mới có thể nói.
3. 相手の発話内容を無視し、会話の展開を方向づけることになるから。
Vì hành động đó phớt lờ nội dung người đối diện nói và dẫn dắt cuộc trò chuyện theo một hướng nhất định.
4. 相手の話の内容を自分勝手に解釈して、会話をすすめるから。
Vì hành động đó tự ý diễn giải nội dung lời nói của người đối diện theo ý mình rồi tiếp tục cuộc trò chuyện.
Tác giả giải thích:
「それは相手がしゃべることができる場でしゃべりきることを制止する権力行為であり」
→ Đó là hành vi sử dụng quyền lực nhằm ngăn cản người đối diện nói hết ý của mình.
Đồng thời:
「会話において次の行為を決めることができる権利をも奪っていくのである。」
→ Hành động đó còn tước đi quyền quyết định bước tiếp theo trong cuộc trò chuyện.
Theo tác giả, việc chen ngang không chỉ đơn thuần là cắt lời mà còn xâm phạm hai quyền quan trọng của người tham gia hội thoại:
・Quyền được nói hết điều mình muốn nói.
・Quyền quyết định diễn biến tiếp theo sau khi kết thúc lượt nói.
Đáp án 1 thể hiện đầy đủ cả hai ý này. Đáp án 2 không chính xác vì bài viết không khẳng định rằng người chen ngang sẽ trở thành người duy nhất được nói.
→ Đáp án 1 đúng.
③「まさに日々、性差別はつくられ続けている」とあるが、筆者の考えに近いものはどれか。
Trong bài có câu "Chính trong cuộc sống hằng ngày, sự phân biệt đối xử về giới vẫn không ngừng được tạo ra". Đáp án nào gần nhất với quan điểm của tác giả?
1. 性差別をなくすための対話でも役割が固定化しているので、対話が成り立たない。
Ngay cả trong những cuộc đối thoại nhằm xóa bỏ phân biệt giới tính, vai trò của mỗi bên vẫn bị cố định nên cuộc đối thoại không thể diễn ra.
2. 歴史的経緯や社会的背景が影響し、普段話す時にも男女の優劣が意識されやすい。
Do ảnh hưởng của quá trình lịch sử và bối cảnh xã hội, ngay cả khi trò chuyện hằng ngày, người ta cũng dễ ý thức về sự hơn kém giữa nam và nữ.
3. 対話で性差別をなくそうとしても発話が偏ってしまい、平等だという結論に至らない。
Dù cố gắng xóa bỏ phân biệt giới tính thông qua đối thoại, việc phát biểu vẫn thiên lệch nên không thể đi đến kết luận rằng nam nữ bình đẳng.
4. 異性と話す態度が男女で異なるので、普段の会話で無意識に性差別が助長される。
Vì nam và nữ có thái độ khác nhau khi trò chuyện với người khác giới nên sự phân biệt giới tính vô tình được củng cố ngay trong những cuộc hội thoại thường ngày.
Tác giả nhận thấy:
「男性が女性の発話に割り込んでいく割合が多かった。」
→ Tỷ lệ đàn ông chen ngang lời nói của phụ nữ cao hơn so với trong những cuộc trò chuyện giữa những người cùng giới.
Ở cuối bài, tác giả khẳng định:
「しかし、他方で、まさに日々、性差別はつくられ続けているのである。」
→ Tuy nhiên, mặt khác, chính trong cuộc sống hằng ngày, sự phân biệt giới tính vẫn liên tục được tạo ra.
Tác giả muốn nhấn mạnh rằng phân biệt giới tính không chỉ bắt nguồn từ lịch sử hay cấu trúc xã hội mà còn được tái tạo thông qua những hành vi giao tiếp thường ngày, chẳng hạn như việc đàn ông ít hưởng ứng lời nói của phụ nữ hoặc thường xuyên chen ngang khi phụ nữ đang nói.
Những hành vi này có thể diễn ra mà người tham gia không nhận thức rõ rằng mình đang góp phần duy trì sự bất bình đẳng.
→ Đáp án 4 đúng.
①「筋肉と同じ」と筆者が考える理由は何か。
Tại sao tác giả cho rằng khả năng nảy sinh ý tưởng "giống như cơ bắp"?
1. 鍛えた力でアイデアを意識の表面に浮かび上がらせるのだから。
Vì nhờ năng lực đã được rèn luyện mà ý tưởng có thể xuất hiện trên bề mặt ý thức.
2. 膨大な範囲にわたって鍛えることが必要だから。
Vì cần phải rèn luyện trên một phạm vi vô cùng rộng lớn.
3. 考え抜く努力を続けないと衰えてしまうものだから。
Vì nếu không tiếp tục nỗ lực suy nghĩ đến cùng thì năng lực đó sẽ dần suy giảm.
4. アイデアを生むということはスポーツと同じだから。
Vì việc tạo ra ý tưởng cũng giống như chơi thể thao.
Tác giả viết:
「その力は筋肉と同じで、鍛え続けないと退化する。」
→ Năng lực đó giống như cơ bắp, nếu không liên tục rèn luyện thì sẽ bị thoái hóa, suy giảm.
Tiếp theo:
「発想力を鍛え、維持するためには、他の誰よりも長い時間集中して考え抜くという、ミもフタもないやり方しかない。」
→ Để rèn luyện và duy trì khả năng nảy sinh ý tưởng, không có cách nào khác ngoài việc tập trung suy nghĩ đến cùng trong thời gian dài hơn bất kỳ ai.
Tác giả so sánh khả năng sáng tạo với cơ bắp vì cả hai đều cần được rèn luyện thường xuyên. Nếu ngừng nỗ lực suy nghĩ, khả năng sáng tạo cũng sẽ dần suy giảm.
→ Đáp án 3 đúng.
筆者はアイデアはどのようにして生まれてくると考えているか。
Tác giả cho rằng ý tưởng được hình thành như thế nào?
1. 筋肉痛になるほどスポーツした後で休むときにひらめく。
Ý tưởng bất chợt xuất hiện khi nghỉ ngơi sau khi chơi thể thao đến mức đau cơ.
2. 泡のように小さなものに注意を向けることで生まれる。
Ý tưởng được hình thành bằng cách chú ý đến những thứ nhỏ bé như bong bóng.
3. 大自然の中でリラックスすることで生まれてくる。
Ý tưởng xuất hiện khi thư giãn giữa thiên nhiên rộng lớn.
4. 限界まで考えた後、そこから離れたときに突然ひらめく。
Ý tưởng bất chợt lóe lên khi đã suy nghĩ đến giới hạn rồi tạm thời rời khỏi vấn đề đó.
Tác giả viết:
「脳が悲鳴を上げるまで考え抜いて、ふっとその課題から離れたときに、湖底から小さな泡が上がってくるように、アイデアの核が浮き上がってくる。」
→ Sau khi suy nghĩ đến mức bộ não như muốn kêu cứu, rồi bất chợt tạm rời khỏi vấn đề đó, mầm mống của ý tưởng sẽ nổi lên giống như một bong bóng nhỏ từ đáy hồ.
Theo tác giả, ý tưởng không nhất thiết xuất hiện ngay trong lúc đang tập trung suy nghĩ. Nó thường bất chợt xuất hiện sau quá trình suy nghĩ hết sức và khi ta tạm thời ngừng tập trung vào vấn đề.
Hình ảnh bong bóng nổi lên từ đáy hồ chỉ là phép so sánh cho sự xuất hiện bất ngờ của ý tưởng, không phải lời khuyên chú ý đến những vật nhỏ bé.
→ Đáp án 4 đúng.
②「機能してくれない」とは、この場合どういうことか。
Trong trường hợp này, cụm từ 「機能してくれない」 (không phát huy tác dụng) có nghĩa là gì?
1. アイデアを生み出す器官が故障している。
Cơ quan tạo ra ý tưởng trong cơ thể đang bị hỏng.
2. アイデアを想像することもできない。
Thậm chí không thể hình dung hay tưởng tượng ra ý tưởng.
3. アイデアを生み出す力が動き出さない。
Năng lực tạo ra ý tưởng không được kích hoạt và không phát huy tác dụng.
4. アイデアが浮かぶまで時間がかかる。
Phải mất nhiều thời gian thì ý tưởng mới xuất hiện.
Tác giả viết:
「しかし直感は、『長い間集中して考え抜くこと』、すなわち果てしない思考の延長上でしか機能してくれない。」
→ Tuy nhiên, trực giác chỉ phát huy tác dụng sau một quá trình suy nghĩ sâu sắc và kéo dài, tức là trên cơ sở của sự suy tư không ngừng.
Ở đây, 「機能する」 có nghĩa là hoạt động hoặc phát huy chức năng.
Tác giả cho rằng trực giác giúp ý tưởng bất chợt xuất hiện, nhưng trực giác đó không thể phát huy tác dụng nếu không có quá trình tập trung suy nghĩ sâu sắc trước đó.
Vì vậy, 「機能してくれない」 chỉ việc năng lực tạo ra ý tưởng không hoạt động hiệu quả, chứ không phải bộ não bị hỏng hay đơn thuần là cần nhiều thời gian chờ đợi.
→ Đáp án 3 đúng.
筆者は川と人生をどう考えているか。
Tác giả có quan điểm như thế nào về mối quan hệ giữa dòng sông và cuộc đời con người?
1. 川の流れの変化を見ていると、人生を考える手がかりになる。
Khi quan sát những thay đổi trong dòng chảy của con sông, con người có thể tìm thấy những gợi ý để suy ngẫm về cuộc đời.
2. 川が水や食べ物を与えてくれなかったら、人生はつまらない。
Nếu dòng sông không cung cấp nước và thức ăn thì cuộc sống sẽ trở nên tẻ nhạt.
3. 川を見ていると人生を形づくるために自然が必要だと感じられる。
Khi ngắm nhìn dòng sông, con người cảm nhận được rằng thiên nhiên là điều cần thiết để hình thành nên cuộc đời.
4. 川のある空間で人生を考えると、豊かな発想が生まれやすい。
Khi suy ngẫm về cuộc đời trong không gian có dòng sông, con người sẽ dễ nảy sinh những ý tưởng phong phú.
Tác giả viết:
「ひとが自分の人生のイメージを川の流れに重ね合わせる場といってもよく」
→ Có thể nói dòng sông là nơi con người liên hệ hình ảnh cuộc đời mình với dòng chảy của con sông.
Đồng thời:
「川は人びとにさまざまな経験を与え、人生を豊かにする可能性をもつ。」
→ Dòng sông mang đến cho con người nhiều trải nghiệm khác nhau và có khả năng làm phong phú thêm cuộc đời.
Tác giả cho rằng dòng sông không chỉ là một yếu tố của thiên nhiên mà còn là nơi con người tích lũy trải nghiệm và liên hệ dòng chảy của nó với cuộc đời mình.
Vì vậy, việc quan sát những thay đổi của dòng sông có thể giúp con người suy ngẫm và hiểu sâu hơn về cuộc sống.
→ Đáp án 1 đúng.
河川事業を説明するパンフレットは、洪水の図から始まっているのはなぜか。
Tại sao các tài liệu giới thiệu về những dự án cải tạo và quản lý sông ngòi thường bắt đầu bằng hình ảnh lũ lụt?
1. 洪水は自然の脅威そのもので、どうしても防ぎたいから。
Vì lũ lụt chính là mối đe dọa của thiên nhiên và người ta nhất định muốn ngăn chặn nó.
2. 都市の川は本来の恵みを与えず、よく洪水を起こすから。
Vì những dòng sông trong đô thị không còn mang lại lợi ích vốn có mà thường xuyên gây ra lũ lụt.
3. 洪水の怖さを強調したほうが河川事業の必要性を示せるから。
Vì việc nhấn mạnh sự đáng sợ của lũ lụt sẽ giúp thể hiện rõ hơn sự cần thiết của các dự án cải tạo và quản lý sông ngòi.
4. 都市では人為的な原因で洪水が起こり、川は人間に敵対するから。
Vì ở đô thị, lũ lụt xảy ra do những nguyên nhân do con người tạo ra và dòng sông trở thành kẻ thù của con người.
Tác giả viết:
「しばしば河川事業を説明するパンフレットは、洪水の図から始まっている。」
→ Các tài liệu giới thiệu dự án sông ngòi thường bắt đầu bằng hình ảnh lũ lụt.
Sau đó, tác giả chỉ ra cách những tài liệu này trình bày:
「洪水の恐怖、リスクを先に置き、『自然の脅威』とか『牙をむく自然』とかといった自然を擬人化して敵対的な表現が用いられる。」
→ Người ta đặt nỗi sợ hãi và rủi ro của lũ lụt lên trước, sử dụng những cách diễn đạt mang tính đối đầu như "mối đe dọa của thiên nhiên" hay "thiên nhiên nhe nanh".
Cách trình bày này khiến người đọc chú ý trước hết đến sự nguy hiểm của dòng sông, từ đó dễ nhận thấy sự cần thiết của các dự án phòng chống lũ lụt.
Tuy nhiên, tác giả phê phán việc nhấn mạnh mối nguy hiểm mà bỏ qua những lợi ích và giá trị vốn có của dòng sông.
→ Đáp án 3 đúng.
この文章の内容に最も近いものはどれか。
Đáp án nào phù hợp nhất với nội dung của đoạn văn?
1. 人間の生活に川は不可欠だが、洪水のために河川事業をするのは仕方がない。
Dòng sông là yếu tố không thể thiếu trong đời sống con người, nhưng việc thực hiện các dự án cải tạo sông ngòi để đối phó với lũ lụt là điều không thể tránh khỏi.
2. 豊かさを表すはずの川の流れを、人間に敵対するように表現するのはよくない。
Không nên mô tả dòng chảy của con sông, vốn tượng trưng cho sự phong phú của cuộc sống, như một thứ đối địch với con người.
3. 豊かさを表す川の流れに、自然を破壊する河川事業をするべきではない。
Không nên thực hiện những dự án cải tạo sông ngòi gây phá hủy thiên nhiên đối với những dòng sông vốn tượng trưng cho sự phong phú.
4. 川は人間の生活に不可欠だから、人間に敵対するように捉えるのはよくない。
Vì dòng sông là yếu tố không thể thiếu trong đời sống con người nên không nên xem nó như một thứ đối địch với con người.
Tác giả nhấn mạnh:
「川は人びとにさまざまな経験を与え、人生を豊かにする可能性をもつ。」
→ Dòng sông mang đến nhiều trải nghiệm và có khả năng làm phong phú thêm cuộc đời con người.
Tuy nhiên:
「河川事業を行うとき、しばしばこの根本的な性格が見落とされる。」
→ Khi thực hiện các dự án cải tạo sông ngòi, đặc tính căn bản này thường bị bỏ qua.
Thay vì nhìn nhận dòng sông như nguồn mang lại lợi ích và trải nghiệm, các tài liệu dự án lại mô tả thiên nhiên bằng những cách diễn đạt mang tính đe dọa, đối đầu.
Ý chính của tác giả là phê phán cách nhìn nhận và mô tả dòng sông như kẻ thù của con người, trong khi dòng sông vốn có khả năng làm phong phú cuộc sống.
Đáp án 4 cũng đề cập đến việc không nên xem dòng sông là đối tượng đối địch, nhưng đáp án 2 phản ánh chính xác hơn sự đối lập giữa giá trị phong phú của dòng chảy và cách mô tả mang tính thù địch mà tác giả nhấn mạnh.
→ Đáp án 2 đúng.
①「そんなこと」とあるが、どんなことを指しているか。
Trong bài có cụm từ 「そんなこと」 (điều như vậy). Cụm từ này chỉ điều gì?
1. 科学や技術の発展で世の中が進歩し、世界に悪人がいなくなるという考え
Quan điểm cho rằng nhờ sự phát triển của khoa học và công nghệ, xã hội sẽ tiến bộ và những người xấu sẽ không còn tồn tại trên thế giới.
2. 科学や技術を人間が進歩させることができるというのは幻想であるという考え
Quan điểm cho rằng việc con người có thể phát triển khoa học và công nghệ chỉ là ảo tưởng.
3. 人間は、科学や技術の発展にかかわらず悪いものであるという考え
Quan điểm cho rằng con người vốn xấu xa, bất kể khoa học và công nghệ có phát triển hay không.
4. 人間は、科学や技術の発展で世の中を変えることはできないという考え
Quan điểm cho rằng con người không thể thay đổi xã hội thông qua sự phát triển của khoa học và công nghệ.
Ngay trước cụm 「そんなこと」, tác giả viết:
「科学や技術によって世の中が進歩すればするほど、人間も進歩し、人間は善くなり、悪人はいなくなるなどと考えることは、どうも幻想にすぎないのではないだろうか。」
→ Quan điểm cho rằng xã hội càng tiến bộ nhờ khoa học và công nghệ thì con người cũng càng tiến bộ, trở nên tốt đẹp hơn và người xấu sẽ biến mất, có lẽ chỉ là một ảo tưởng.
「そんなこと」 dùng để chỉ lại toàn bộ quan điểm vừa được đề cập.
Tác giả không phủ nhận sự phát triển của khoa học và công nghệ, mà phản đối suy nghĩ rằng sự tiến bộ về khoa học và công nghệ sẽ tự động khiến con người trở nên tốt đẹp và loại bỏ hoàn toàn cái xấu.
Vì vậy, đáp án 1 thể hiện chính xác nội dung được nhắc đến.
→ Đáp án 1 đúng.
②「そのような人間」とは、どのようなものか。
Cụm từ 「そのような人間」 (những người như vậy) chỉ kiểu người nào?
1. 愛すべき善い人間
Những người tốt bụng, đáng yêu mến.
2. かげで悪事を働く人間
Những người lén lút thực hiện các hành vi xấu xa.
3. 信用できる甘い人
Những người dễ dãi và đáng tin cậy.
4. 悪事を子供に教える人間
Những người dạy trẻ em làm điều xấu.
Tác giả viết:
「しかし信用できない人間、かくれてだます人間、人を傷つけて知らぬふりをしている人間の数も、それに劣らず多い。」
→ Tuy nhiên, số lượng những người không đáng tin cậy, những người lén lút lừa dối người khác và những người làm tổn thương người khác rồi giả vờ như không biết gì cũng nhiều không kém.
Ngay sau đó, tác giả dùng cụm 「そのような人間」 để chỉ lại nhóm người vừa được liệt kê.
Điểm chung của những người này là thực hiện các hành vi xấu, lừa dối hoặc gây tổn hại cho người khác, đôi khi một cách kín đáo.
Vì vậy, 「かげで悪事を働く人間」 là cách diễn đạt phù hợp nhất.
→ Đáp án 2 đúng.
筆者は子供にどのようなことを教えることが必要だと言っているか。
Tác giả cho rằng cần phải dạy trẻ em điều gì?
1. 子供に他人を疑うことを教えない大人を信じてはいけないという事実
Cần dạy trẻ rằng không được tin tưởng những người lớn không dạy trẻ cách nghi ngờ người khác.
2. アリストテレスの言葉に代表される、人間の本質をついた考え
Cần dạy những quan điểm phản ánh đúng bản chất con người, tiêu biểu như lời nói của Aristotle.
3. 人間のなかにはいつも悪人も疑うべきものも存在しているのだということ
Cần dạy trẻ rằng trong xã hội luôn tồn tại những người xấu và những điều cần phải cảnh giác, nghi ngờ.
4. 人間はみな善人になりうる、という日本に根付いた他者志向型の文化
Cần dạy trẻ về nền văn hóa coi trọng người khác đã ăn sâu vào xã hội Nhật Bản, với quan điểm rằng tất cả mọi người đều có thể trở thành người tốt.
Tác giả viết:
「オモテばかりを教えて、ウラを教えない教育は片手落ちというべきである。」
→ Nền giáo dục chỉ dạy mặt tốt mà không dạy mặt trái thì phải nói là một nền giáo dục thiếu sót.
Và kết luận:
「疑うべきものはきちんと疑うように教えるべきなのだ。」
→ Cần phải dạy trẻ biết nghi ngờ một cách đúng đắn những điều đáng nghi ngờ.
Tác giả cho rằng giáo dục không nên chỉ dạy trẻ rằng mọi người đều tốt và đáng tin cậy. Trẻ cũng cần hiểu rằng trong xã hội tồn tại những người xấu, những hành vi lừa dối và những tình huống cần cảnh giác.
Điều tác giả nhấn mạnh không phải là dạy trẻ nghi ngờ tất cả mọi người, mà là giúp trẻ nhận thức được cả mặt tốt lẫn mặt xấu của con người để biết tự bảo vệ mình.
→ Đáp án 3 đúng.
生命はどのように「動的な平衡」を保ち得ているか。
Sự sống duy trì được "trạng thái cân bằng động" bằng cách nào?
1. 壊れたタンパク質の場所に合った新しいタンパク質が補充される。
Những protein mới phù hợp được bổ sung vào vị trí của những protein đã bị phân hủy.
2. あるタンパク質が壊れると、周囲のタンパク質が増えてそこを埋める。
Khi một protein bị phân hủy, các protein xung quanh sẽ tăng lên để lấp đầy vị trí đó.
3. タンパク質は壊れる前に、自分と同じタイプのタンパク質を作る。
Trước khi bị phân hủy, protein sẽ tạo ra một protein khác cùng loại với mình.
4. タンパク質は壊されながら、絶え間のない流れに沿って移動していく。
Protein vừa bị phân hủy vừa di chuyển theo dòng chảy liên tục không ngừng.
Tác giả viết:
「新しく作られたピースは自らのかたちが規定する相補性によって、自分の納まるべき位置をあらかじめ決定されている」
→ Những mảnh ghép mới được tạo ra, nhờ tính bổ sung được quyết định bởi hình dạng của chúng, đã có sẵn vị trí phù hợp mà chúng cần lắp vào.
Tiếp theo:
「ピースは(中略)納まるべき場所に納まる。」
→ Các mảnh ghép cuối cùng sẽ lắp vào đúng vị trí của mình.
Tác giả sử dụng hình ảnh trò chơi ghép hình để giải thích cơ chế duy trì cân bằng động của sự sống.
Khi protein cũ bị phân hủy, những protein mới được tạo ra sẽ bổ sung vào các vị trí phù hợp nhờ tính bổ sung về cấu trúc. Nhờ vậy, dù các thành phần liên tục thay đổi, cấu trúc tổng thể vẫn được duy trì.
Đáp án 2 không đúng vì bài viết không nói rằng các protein xung quanh tự tăng số lượng để lấp chỗ trống.
→ Đáp án 1 đúng.
筆者は、「ジグソーパズルのピース」を何の例えとして使っているか。
Tác giả sử dụng hình ảnh "những mảnh ghép của trò chơi ghép hình" để ví von cho điều gì?
1. 複雑な全体を構成するもの
Những thành phần cấu tạo nên một tổng thể phức tạp.
2. ぴったりのものを見つけにくいもの
Những thứ khó tìm được một đối tượng hoàn toàn phù hợp.
3. 似ているが、少しずつ異なるもの
Những thứ trông giống nhau nhưng có những khác biệt nhỏ.
4. 捨てられてもすぐに補完できるもの
Những thứ dù bị loại bỏ vẫn có thể được bổ sung, thay thế ngay lập tức.
Ngay đầu đoạn văn, tác giả đề cập:
「生命を構成するタンパク質は作られる際から壊される。」
→ Những protein cấu tạo nên sự sống bắt đầu bị phân hủy ngay từ khi được tạo ra.
Sau đó, tác giả sử dụng hình ảnh:
「ジグソーパズルのピースは次々と捨てられる。」
→ Những mảnh ghép của trò chơi ghép hình liên tục bị loại bỏ.
Ở đây, mỗi mảnh ghép tượng trưng cho một thành phần protein, còn bức tranh ghép hình hoàn chỉnh tượng trưng cho cấu trúc tổng thể của sự sống.
Tác giả dùng phép so sánh này để giải thích rằng dù từng thành phần liên tục bị phân hủy và thay thế, tổng thể vẫn có thể duy trì trạng thái cân bằng.
Đáp án 4 dễ gây nhầm lẫn vì có đề cập đến việc thay thế các mảnh ghép. Tuy nhiên, bài viết không nhấn mạnh rằng chúng có thể được bổ sung ngay lập tức. Câu hỏi yêu cầu xác định đối tượng được ví von, nên đáp án 1 chính xác hơn.
→ Đáp án 1 đúng.
筆者は、生命をどのようなものだと主張しているか。
Tác giả khẳng định sự sống là một dạng tồn tại như thế nào?
1. 常に変わらずに全体の平衡を保つもの
Một dạng tồn tại luôn không thay đổi và duy trì trạng thái cân bằng của toàn bộ hệ thống.
2. タンパク質で全体が構成されているもの
Một dạng tồn tại mà toàn bộ được cấu tạo từ protein.
3. ランダムな熱運動の継続によって流れていくもの
Một dạng tồn tại vận động liên tục nhờ sự duy trì của chuyển động nhiệt ngẫu nhiên.
4. 分解と合成を繰り返しながら維持されるもの
Một dạng tồn tại được duy trì thông qua quá trình phân hủy và tổng hợp lặp đi lặp lại.
Tác giả khẳng định ngay từ đầu:
「生命とは動的平衡にある流れである。」
→ Sự sống là một dòng chảy tồn tại trong trạng thái cân bằng động.
Và kết luận bằng hình ảnh trò chơi ghép hình:
「不断の分解と合成に晒されながらも、パズルは全体として平衡を保つことが可能となる。」
→ Mặc dù liên tục trải qua quá trình phân hủy và tổng hợp, bức tranh ghép hình vẫn có thể duy trì trạng thái cân bằng xét trên toàn bộ cấu trúc.
Quan điểm cốt lõi của tác giả là sự sống không phải một cấu trúc bất biến.
Ngược lại, các thành phần cấu tạo nên sự sống luôn được phân hủy và tạo mới. Chính quá trình thay thế liên tục này giúp duy trì trạng thái cân bằng của toàn bộ hệ thống.
Vì vậy, đáp án 1 sai ở ý 「常に変わらずに」 (luôn không thay đổi), còn đáp án 4 phản ánh chính xác đặc điểm của cân bằng động.
→ Đáp án 4 đúng.