N2 - Đọc hiểu - Bài đọc vừa Bài đọc 9 / 29
Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi.

そこは、ぼくが東京に来て初めて入った食べ物屋さんだった。受験のために上京したぼくは、そば屋に入るのさえこわがっていたのだ。そして、すきっ腹をかかえて、やっととび込んだこの店で、恐る恐る壁に書かれた品目を見上げ、一番安いものを注文したのだ。あれから11年が過ぎていた。得た物も多い。だがその間に失くしたものも大きかった。

「えっ? こんなとこに入るの? いやよ、あたし」

硝子戸に手をかけたぼくに、連れの女は露骨に(※1)不快な表情を向けてそういった。その女との結婚を考えていたぼくは、急に心が冷めたように感じた。

①ぼくはかまわずに戸を引いた。そのとき、ぼくの脳裏(※2)に高校生の娘の顔が浮かんだ。注文を受けた彼女は、数分後に申し訳なさそうな目をして、作られた料理をぼくの前に置いたものだった。それを見て、ぼくは②全身に冷や汗をかいた。玉ねぎの薄切りが出ていたからだ。オニオンスライス。何かの飯だとぼくは思っていたのだ。

「いらっしゃいませ」

暖かい目をしたふくよかな(※3)女性が11年ぶりにぼくを迎えてくれた。

(※1)露骨に:実際にあったとおり、少しもかくさないで

(※2)脳裏:頭の中

(※3)ふくよかな:少しふとっている

高橋三千「心の風景」『中吊り小説』新潮文庫による
1
そこは、ぼくが東京に来て初めて入った食べ物屋さんだった。
Đó là quán ăn đầu tiên mà tôi bước vào khi mới đến Tokyo.
2
受験のために上京したぼくは、そば屋に入るのさえこわがっていたのだ。
Khi ấy, tôi lên Tokyo để dự thi và thậm chí còn sợ cả việc bước vào một quán mì soba.
3
そして、すきっ腹をかかえて、やっととび込んだこの店で、恐る恐る壁に書かれた品目を見上げ、一番安いものを注文したのだ。
Rồi trong lúc bụng đói cồn cào, cuối cùng tôi cũng đánh liều bước vào quán này, rụt rè nhìn lên thực đơn viết trên tường và gọi món rẻ nhất.
4
あれから11年が過ぎていた。
Kể từ ngày ấy, 11 năm đã trôi qua.
5
得た物も多い。だがその間に失くしたものも大きかった。
Tôi đã có được nhiều thứ. Nhưng trong khoảng thời gian ấy, những gì tôi đánh mất cũng không hề nhỏ.
6
「えっ? こんなとこに入るの? いやよ、あたし」
“Hả? Anh định vào một nơi như thế này sao? Em không thích đâu.”
7
硝子戸に手をかけたぼくに、連れの女は露骨に不快な表情を向けてそういった。
Khi tôi đặt tay lên cánh cửa kính, người phụ nữ đi cùng đã nói như vậy với vẻ mặt khó chịu không hề che giấu.
8
その女との結婚を考えていたぼくは、急に心が冷めたように感じた。
Tôi vốn đang nghĩ đến chuyện kết hôn với cô ấy, nhưng lúc đó bỗng cảm thấy tình cảm trong lòng mình như nguội lạnh.
9
ぼくはかまわずに戸を引いた。
Tôi vẫn kéo cửa ra mà không bận tâm đến lời cô ấy.
10
そのとき、ぼくの脳裏に高校生の娘の顔が浮かんだ。
Đúng lúc ấy, gương mặt của một cô nữ sinh trung học hiện lên trong tâm trí tôi.
11
注文を受けた彼女は、数分後に申し訳なさそうな目をして、作られた料理をぼくの前に置いたものだった。
Cô gái ấy đã nhận món tôi gọi và vài phút sau mang món ăn đã được chuẩn bị đến đặt trước mặt tôi, với ánh mắt có vẻ ái ngại.
12
それを見て、ぼくは全身に冷や汗をかいた。
Nhìn thấy món ăn ấy, tôi toát mồ hôi lạnh khắp người.
13
玉ねぎの薄切りが出ていたからだ。
Bởi vì thứ được mang ra chỉ là những lát hành tây thái mỏng.
14
オニオンスライス。
Onion slice, tức món hành tây thái lát.
15
何かの飯だとぼくは思っていたのだ。
Tôi đã tưởng đó là một món cơm nào đó.
16
「いらっしゃいませ」
“Xin kính chào quý khách.”
17
暖かい目をしたふくよかな女性が11年ぶりにぼくを迎えてくれた。
Một người phụ nữ có đôi mắt ấm áp và thân hình hơi đầy đặn đã đón tiếp tôi sau 11 năm.
1
①ぼくはかまわずに戸を引いたとあるが、何にかまわなかったのか。

①ぼくはかまわずに戸を引いたとあるが、何にかまわなかったのか。

Trong câu “Tôi vẫn kéo cửa ra mà không bận tâm”, nhân vật “tôi” đã không bận tâm đến điều gì?

1. 連れの女が店になかなか入らなかったこと

Việc người phụ nữ đi cùng mãi không chịu bước vào quán.

2. 連れの女と結婚するかどうかということ

Việc có nên kết hôn với người phụ nữ đi cùng hay không.

3. 連れの女への愛情がなくなったこと

Việc tình cảm dành cho người phụ nữ đi cùng đã không còn.

4. 連れの女の言ったこと

Những lời mà người phụ nữ đi cùng đã nói.

Dẫn chứng trong bài:

→ “Hả? Anh định vào một nơi như thế này sao? Em không thích đâu.”

→ Khi tôi đặt tay lên cánh cửa kính, người phụ nữ đi cùng đã nói như vậy với vẻ mặt khó chịu không hề che giấu.

→ Tôi vẫn kéo cửa ra mà không bận tâm.

có nghĩa là không để ý, không bận tâm đến điều gì đó.

Trong ngữ cảnh này, người phụ nữ đi cùng tỏ thái độ khó chịu và nói rằng cô không muốn vào quán. Tuy nhiên, nhân vật “tôi” vẫn quyết định mở cửa bước vào mà không để tâm đến lời nói của cô.

Đáp án 1 không chính xác vì đoạn văn không nhấn mạnh việc người phụ nữ chậm bước vào quán. Đáp án 2 và 3 liên quan đến suy nghĩ, tình cảm của nhân vật nhưng không phải đối tượng trực tiếp của .

→ Đáp án 4 đúng.

2
②全身に冷や汗をかいたのはなぜか。

②全身に冷や汗をかいたのはなぜか。

Tại sao nhân vật “tôi” lại “toát mồ hôi lạnh khắp người”?

1. 自分が注文したものが予想と異なり、食事らしくないものだとわかったから。

Vì nhận ra món mình gọi khác với tưởng tượng, không phải một món ăn giống như bữa ăn mà mình mong đợi.

2. 注文したものをまちがえて持ってきた高校生を、かわいそうに思ったから。

Vì cảm thấy thương cô nữ sinh trung học đã mang nhầm món ăn mình gọi.

3. 高校生の失敗を、店の人に気づかれないようにしようと思ったから。

Vì muốn che giấu sai sót của cô nữ sinh trung học để những người trong quán không phát hiện.

4. まちがえて注文した料理が、とても冷たい料理だったから。

Vì món ăn mà mình gọi nhầm là một món ăn rất lạnh.

Dẫn chứng trong bài:

→ Trong lúc bụng đói cồn cào, cuối cùng tôi cũng đánh liều bước vào quán này, rụt rè nhìn lên thực đơn viết trên tường và gọi món rẻ nhất.

→ Nhìn thấy món ăn ấy, tôi toát mồ hôi lạnh khắp người. Bởi vì thứ được mang ra chỉ là những lát hành tây thái mỏng.

→ Onion slice, tức món hành tây thái lát. Tôi đã tưởng đó là một món cơm nào đó.

Nhân vật “tôi” lúc ấy là một học sinh từ quê lên Tokyo dự thi, chưa quen với cuộc sống nơi thành phố và thậm chí còn sợ bước vào quán ăn.

Vì quá đói và không hiểu rõ tên món ăn, nhân vật đã gọi món rẻ nhất trên thực đơn, tưởng rằng đó là một món cơm có thể ăn no. Nhưng khi món ăn được mang ra, anh mới nhận ra đó chỉ là hành tây thái lát.

nghĩa là toát mồ hôi lạnh, thường diễn tả cảm giác hoảng hốt, lo lắng hoặc bối rối.

Đáp án 2 và 3 không đúng vì cô nữ sinh không mang nhầm món hay mắc lỗi. Đáp án 4 không đúng vì nguyên nhân không phải do nhiệt độ món ăn, mà do nhân vật đã hiểu nhầm tên món.

→ Đáp án 1 đúng.

3
「女性」とは、だれのことか。

「女性」とは、だれのことか。

“Người phụ nữ” được nhắc đến trong bài là ai?

1. ぼくの注文を受けた高校生の母親

Mẹ của cô nữ sinh trung học đã nhận món ăn mà tôi gọi.

2. 11年前に結婚を考えていた女

Người phụ nữ mà tôi từng nghĩ đến chuyện kết hôn cách đây 11 năm.

3. 11年ぶりに上京したぼくの母親

Mẹ của tôi, người đã lên Tokyo sau 11 năm.

4. 11年前に、ぼくの注文を受けた高校生

Cô nữ sinh trung học đã nhận món ăn mà tôi gọi cách đây 11 năm.

Dẫn chứng trong bài:

→ Lúc ấy, gương mặt của một cô nữ sinh trung học hiện lên trong tâm trí tôi.

→ Cô gái đã nhận món tôi gọi và vài phút sau mang món ăn đã được chuẩn bị đến đặt trước mặt tôi, với ánh mắt có vẻ ái ngại.

→ “Xin kính chào quý khách.”

→ Một người phụ nữ có đôi mắt ấm áp và thân hình hơi đầy đặn đã đón tiếp tôi sau 11 năm.

Đoạn văn kể về việc nhân vật “tôi” quay lại quán ăn đầu tiên mà mình từng bước vào khi mới lên Tokyo cách đây 11 năm.

Khi mở cửa quán, nhân vật nhớ lại cô nữ sinh trung học từng nhận món ăn mình gọi. Ngay sau đó, một người phụ nữ có ánh mắt ấm áp và thân hình hơi đầy đặn xuất hiện chào đón anh.

Dựa vào mạch kể và khoảng thời gian 11 năm, có thể hiểu người phụ nữ hiện tại chính là cô nữ sinh trung học năm xưa, nay đã trưởng thành.

Đáp án 1 không có căn cứ vì bài không đề cập đến mẹ của cô nữ sinh. Đáp án 2 không đúng vì người phụ nữ mà nhân vật đang nghĩ đến chuyện kết hôn là người đi cùng anh ở hiện tại, không phải 11 năm trước. Đáp án 3 không liên quan vì mẹ của nhân vật không xuất hiện trong câu chuyện.

→ Đáp án 4 đúng.