N3 - Đọc hiểu - Bài đọc vừa Bài đọc 5 / 17
Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi.

人間の睡眠時間(※1)はだいたい8時間ぐらいだと言われている。何かの理由で5時間しか寝ることができなかった場合は、その不足分がたまっていく。

寝不足(※2)を元に戻すために、休みの日に多めに12時間寝られるかというと、そうもいかない。他の用事があるし、第一、明るいと寝られない。したがって、ずっと寝不足になり、疲れもたまっていく。しかしながら、1か月前からの古い寝不足をずっと持っているわけではない。ゆっくり時間がとれるときにいつもよりも1時間でも多く寝ることで、実際にはかなり回復するのである。

一方、寝すぎもよくない。ゆっくり寝られるからといって、日曜日の昼過ぎまで寝てしまうと、睡眠のリズムが崩れて、日曜日の夜、眠れなくなり、月曜日に体の調子が悪くなってしまうこともあるらしい。

だから、( )。

(※1)睡眠時間:寝る時間

(※2)寝不足:寝る時間が足りないこと

1
人間の睡眠時間(※1)はだいたい8時間ぐらいだと言われている。
Người ta nói rằng thời gian ngủ của con người thường vào khoảng 8 tiếng.
2
何かの理由で5時間しか寝ることができなかった場合は、その不足分がたまっていく。
Nếu vì lý do nào đó mà chỉ có thể ngủ được 5 tiếng, thì số giờ ngủ bị thiếu sẽ dần tích tụ lại.
3
寝不足(※2)を元に戻すために、休みの日に多めに12時間寝られるかというと、そうもいかない。
Để bù lại tình trạng thiếu ngủ, nếu hỏi rằng vào ngày nghỉ có thể ngủ nhiều hơn, chẳng hạn 12 tiếng hay không, thì thực tế không dễ thực hiện được như vậy.
4
他の用事があるし、第一、明るいと寝られない。
Vì còn có những công việc khác phải làm, hơn nữa, khi trời sáng thì không thể ngủ được.
5
したがって、ずっと寝不足になり、疲れもたまっていく。
Vì vậy, tình trạng thiếu ngủ cứ tiếp diễn và sự mệt mỏi cũng dần tích tụ.
6
しかしながら、1か月前からの古い寝不足をずっと持っているわけではない。
Tuy nhiên, không có nghĩa là tình trạng thiếu ngủ từ một tháng trước sẽ cứ kéo dài mãi.
7
ゆっくり時間がとれるときにいつもよりも1時間でも多く寝ることで、実際にはかなり回復するのである。
Khi có thể dành thời gian nghỉ ngơi thoải mái, chỉ cần ngủ nhiều hơn bình thường dù chỉ một tiếng thì thực tế cũng có thể phục hồi đáng kể.
8
一方、寝すぎもよくない。
Mặt khác, ngủ quá nhiều cũng không tốt.
9
ゆっくり寝られるからといって、日曜日の昼過ぎまで寝てしまうと、
Nếu chỉ vì có thể ngủ thoải mái mà ngủ đến tận quá trưa Chủ nhật,
10
睡眠のリズムが崩れて、日曜日の夜、眠れなくなり、
thì nhịp sinh học của giấc ngủ sẽ bị xáo trộn, khiến tối Chủ nhật không thể ngủ được,
11
月曜日に体の調子が悪くなってしまうこともあるらしい。
và nghe nói có những trường hợp cơ thể cảm thấy không khỏe vào thứ Hai.
12
だから、寝るべき時間に、8時間ぐらい寝るのが一番である。
Vì vậy, tốt nhất là ngủ khoảng 8 tiếng vào thời gian thích hợp để ngủ.
1
「そうもいかない」とはどういう意味か。

「そうもいかない」とはどういう意味か。

Cụm 「そうもいかない」 có nghĩa là gì?

1. 寝るためには、用事はやらなくてもよい。

Để ngủ thì không cần phải làm những công việc khác.

2. 外が明るくても、気にすることはない。

Dù bên ngoài trời sáng cũng không cần bận tâm.

3. 12時間で疲れをとることはできない。

Không thể hết mệt mỏi bằng cách ngủ 12 tiếng.

4. 長く寝ていることはできない。

Không thể ngủ trong thời gian dài.

Câu hỏi yêu cầu giải thích ý nghĩa của trong ngữ cảnh bài đọc.

Trong bài có:

→ Để bù lại tình trạng thiếu ngủ, nếu hỏi rằng vào ngày nghỉ có thể ngủ nhiều hơn, chẳng hạn 12 tiếng hay không, thì thực tế không dễ thực hiện được như vậy.

Ngay sau đó, tác giả giải thích:

→ Vì còn có những công việc khác phải làm, hơn nữa, khi trời sáng thì không thể ngủ được.

Như vậy, ở đây có nghĩa là dù muốn ngủ thật lâu để bù lại thời gian thiếu ngủ, nhưng thực tế không thể làm như vậy vì còn những công việc khác và điều kiện không thuận lợi.

→ Đáp án 4 đúng.

Đáp án 1 sai vì tác giả nói rằng vẫn còn những công việc khác phải làm, chứ không phải có thể bỏ qua chúng để ngủ.

Đáp án 2 sai vì bài viết cho biết khi trời sáng thì khó ngủ, không phải không cần quan tâm đến ánh sáng.

Đáp án 3 không chính xác vì câu hỏi không đề cập đến việc ngủ 12 tiếng có giúp hết mệt mỏi hay không, mà nói đến việc không thể ngủ lâu như mong muốn.

2
「疲れ」について、どのように言っているか。

「疲れ」について、どのように言っているか。

Bài viết nói như thế nào về sự mệt mỏi?

1. 時間があるときにいつもより多く寝ればとれる。

Khi có thời gian, nếu ngủ nhiều hơn bình thường thì có thể hết mệt mỏi.

2. 別の時間に寝不足の時間だけ寝ればとれる。

Nếu ngủ bù đúng số giờ đã thiếu vào một thời điểm khác thì có thể hết mệt mỏi.

3. 十分な睡眠ができないから、疲れはとれない。

Vì không thể ngủ đủ giấc nên không thể hết mệt mỏi.

4. 十分な睡眠があっても、古い疲れはとれない。

Dù ngủ đủ giấc cũng không thể loại bỏ sự mệt mỏi tích tụ từ trước.

Câu hỏi yêu cầu xác định quan điểm của tác giả về cách phục hồi sự mệt mỏi do thiếu ngủ.

Trong bài có:

→ Tuy nhiên, không có nghĩa là tình trạng thiếu ngủ từ một tháng trước sẽ cứ tồn tại mãi.

Tác giả tiếp tục giải thích:

→ Khi có thể dành thời gian nghỉ ngơi thoải mái, chỉ cần ngủ nhiều hơn bình thường dù chỉ một tiếng thì thực tế cũng có thể phục hồi đáng kể.

Điều này cho thấy không nhất thiết phải ngủ bù toàn bộ số giờ đã thiếu. Khi có thời gian, việc ngủ nhiều hơn bình thường cũng giúp cơ thể phục hồi.

→ Đáp án 1 đúng.

Đáp án 2 sai vì tác giả không nói phải ngủ bù đúng số giờ đã thiếu. Bài chỉ nhấn mạnh rằng ngủ thêm dù chỉ một tiếng cũng có thể giúp phục hồi đáng kể.

Đáp án 3 sai vì tác giả khẳng định cơ thể vẫn có thể phục hồi khi ngủ nhiều hơn bình thường.

Đáp án 4 sai vì bài viết không cho rằng sự mệt mỏi tích tụ từ trước là không thể phục hồi.

3
( )にはどのような言葉が入るか。

( )にはどのような言葉が入るか。

Nên điền câu nào vào chỗ trống ( )?

1. 睡眠時間は少ないほうが体によいのではないだろうか。

Có lẽ ngủ ít thời gian hơn sẽ tốt cho cơ thể, phải không?

2. 寝るべき時間に、8時間ぐらい寝るのが一番である。

Tốt nhất là ngủ khoảng 8 tiếng vào thời gian thích hợp để ngủ.

3. 人間は、8時間より多く寝ることで体力が回復する。

Con người có thể phục hồi thể lực bằng cách ngủ nhiều hơn 8 tiếng.

4. 多かれ少なかれ、人はだれでも寝るものだ。

Dù ít hay nhiều thì ai cũng cần ngủ.

Câu hỏi yêu cầu chọn câu kết luận phù hợp nhất với nội dung toàn bài.

Ở đầu bài, tác giả nêu:

→ Người ta nói rằng thời gian ngủ của con người thường vào khoảng 8 tiếng.

Tiếp theo, tác giả giải thích rằng thiếu ngủ khiến sự mệt mỏi tích tụ, nhưng khi có thời gian, chỉ cần ngủ thêm một chút cũng có thể giúp cơ thể phục hồi.

Tuy nhiên, tác giả cũng cảnh báo:

→ Mặt khác, ngủ quá nhiều cũng không tốt.

Đặc biệt, trong đoạn cuối có:

→ Nếu ngủ đến tận quá trưa Chủ nhật, nhịp sinh học của giấc ngủ sẽ bị xáo trộn, khiến tối Chủ nhật không ngủ được và có khi cơ thể cảm thấy không khỏe vào thứ Hai.

Như vậy, tác giả muốn nhấn mạnh rằng cả thiếu ngủ lẫn ngủ quá nhiều đều không tốt. Điều quan trọng là duy trì thời gian ngủ hợp lý và nhịp sinh hoạt ổn định.

Vì vậy, câu kết luận phù hợp nhất là ngủ khoảng 8 tiếng vào thời gian thích hợp.

→ Đáp án 2 đúng.

Đáp án 1 sai vì tác giả không khuyến khích ngủ ít. Ngược lại, bài viết giải thích rằng thiếu ngủ khiến sự mệt mỏi tích tụ.

Đáp án 3 sai vì tác giả không cho rằng ngủ càng nhiều càng tốt. Đoạn cuối còn cảnh báo việc ngủ quá lâu có thể làm rối loạn nhịp ngủ.

Đáp án 4 không phù hợp vì chỉ nêu một sự thật chung rằng ai cũng ngủ, trong khi kết luận của bài cần nhấn mạnh thời lượng và thời điểm ngủ hợp lý.